Để đạt được mục tiêu “Chiến lược TTX ngành thép” nêu trên, cần thực hiện các giải pháp giảm thiểu khí bụi thải do HĐSX của ngành thép Việt Nam như sau [1]:

- Thứ nhât, nâng cao nhận thức và nguồn lực cho BVMT: DN cần hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm về BVMT, thực hiện nghiêm các văn bản pháp luật về BVMT đã ban hành. Phối hợp với cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt các vi phạm BVMT trong các DN ngành thép. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường nguồn tài chính cho BVMT. Tuyên truyền cho các DN hiểu và chung tay hoàn thành các mục tiêu của “Chiến lược quốc gia về TTX của Việt Nam” mà Chính phủ Việt Nam đang chỉ đạo thực hiện.

- Thứ hai, đầu tư chiều sâu và đổi mới công nghệ nhằm BVMT hiệu quả hơn. Lấy việc phòng ngừa ô nhiễm, giảm thiểu chất thải phát sinh gây tác động tiêu cực đến môi trường bằng việc sử dụng công nghệ ít tiêu tốn nhiên liệu và năng lượng, phát thải khí thấp, tuổi thọ thiết bị cao, chu kỳ tạo sản phẩm ngắn và thân thiện với môi trường. Chú trọng áp dụng công nghệ “Sản xuất sạch hơn” tại các DN trọng điểm. Không khuyến khích đầu tư dự án luyện than cốc tại Việt Nam và cần thay đổi công nghệ sản xuất than cốc theo phương pháp dập khô thay cho dập ướt nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các nhà máy luyện cốc hiện nay ở Việt Nam.

- Thứ ba, giảm tiêu hao, sử dụng nhiên liệu sạch và nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào trong sản suất gang thép. Những năm qua với sự hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức quốc tế ngành thép Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp giảm tiêu hao nhiên liệu đạt tới mức tiên tiến của các nước trong khu vực. Mức tiêu hao cụ thể đặt ra như sau: Đối với luyện gang, mức tiêu hao than cốc từ là (400÷450) kg cốc/tấn gang; đối với cán thép giảm tiêu hao dầu dưới 20 lít/tấn sản phẩm.

Việc sử dụng nhiên liệu sạch sẽ làm giảm phát thải KNK. Vì thế sau năm 2020 các DN thép sẽ thay đổi nhiên liệu (từ dùng than sang dùng khí) và tăng cường sử dụng năng lượng có hiệu quả.

Do chất lượng tài nguyên khoáng sản khai thác khác nhau và chứa một số tạp chất gây hại cho công nghệ luyện gang thép nên việc xử lý nguyên liệu đầu vào cho các công đoạn luyện gang và luyện thép hết sức quan trọng. Khi nguyên liệu đầu vào sạch thì quá trình nấu luyện sẽ thuận tiện, giảm tiêu hao năng lượng và giảm lượng phát thải KNK.

Nguyên liệu đầu vào cho luyện gang (quặng sắt, than cốc, than cám antraxit để phun thổi vào lò cao và các nguyên liệu khác) cần phải được xử lý đảm bảo chất lượng trước khi nạp vào lò cao. Khi tăng hàm lượng Fe trong quặng sắt lên 1 % thì giảm mức tiêu thụ than cốc được 2 % và tăng sản lượng gang lên 3 %. Giải pháp này đã làm giảm giá thành sản xuất gang và gián tiếp giảm phát thải KNK (khí CO2) do giảm mức tiêu thu than cốc (giảm 2 %).

Xử lý phôi thép và bề mặt cuộn thép cán nóng (HRC) cho công đoạn cán nguội nhằm mục đích nâng cao công suất và hiệu suất sử dụng thiết bị, giảm tiêu hao nhiên liệu và năng lượng (tiêu hao dầu và điện) trên một đơn vị sản phẩm. Kết quả giải pháp trực tiếp là giảm giá thành và gián tiếp đã giảm thiểu phát thải KNK.

- Thứ tư, tiết kiệm năng lượng (TKNL) trong HĐSX của ngành thép Việt Nam: Đây là mục tiêu quan trọng của hầu hết các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông-lâm nghiệp và dịch vụ kinh tế… của mỗi quốc gia, nó không những mang ý nghĩa kinh tế mà còn BVMT và ứng phó với những thách thức về BĐKH toàn cầu. Giải pháp TKNL trong HĐSX của ngành thép Việt Nam đã và sẽ được áp dụng như sau: Nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng (nhiệt năng, điện năng và khí…), giảm thiểu các tổn thất, lãng phí năng lượng trong mọi hoạt động của DN. Cải tiến bổ sung các thiết bị phụ trợ, nguyên nhiên liệu phụ trợ nhằm tăng cường thúc đẩy nhanh quá trình nấu luyện, rút ngắn thời gian tạo sản phẩm bằng biện pháp cụ thể như: bổ sung mỏ đốt cho lò điện EAF; sử dụng loại mỏ đốt tái sinh cho lò nung phôi kết hợp với hệ thống buồng tích nhiệt; tăng cường phun than cám  antraxit kết hợp tăng ôxy để giảm tiêu hao than cốc vào lò cao…

- Thứ năm, sử dụng nhiệt dư và khí thải: Trong khí thải lò luyện cốc, luyện gang, luyện thép (bằng lò chuyển) chứa lượng các chất CO, H2, CnHm… Có thể tận dụng nhiệt dư từ khí thải để sấy thép phế nhằm rút ngắn thời gian luyện thép trong lò điện. Việc tận dụng nhiệt dư đã được áp dụng tại một số DN trong ngành thép Việt Nam (tại lò CONSTEEL của Công ty Thép Việt, tại lò DANARC PLUS của Công ty Thép Miền Nam…). Ngoài ra, có thể sử dụng khí thải làm nhiên liệu (nung, đốt) cho một số công đoạn sản xuất nội bộ nhà máy (đốt lò nung, lò hơi) hoặc cấp cho các hộ bên ngoài có nhu cầu sử dụng (sản xuất điện bằng tuabin…).

- Thứ sau, xử lý khối lượng bụi, xỉ gang và xỉ thép: Việc xử lý khối lượng bụi, xỉ gang, xỉ thép và xỉ tro từ các nhà máy nhiệt điện thải ra tồn đọng khá nhiều tại các DN trên cả nước đang đặt ra thách thức lớn cho các ngành công nghiệp nói chung và ngành thép Việt Nam. Hiệu quả khi sử dụng xỉ gang và xỉ thép như sau:

i) Trong sản xuất xi măng, việc sử dụng xỉ gang lò cao đã làm tăng tính chất cơ học và tính năng vật liệu xây dựng (tăng cường độ chịu lực, chống ăn mòn hóa học cho vữa bê tông…), góp phần giảm phát thải CO2, tiết kiệm năng lượng và TNKS;
ii) Trong sản xuất phân bón, sử dụng xỉ gang lò cao đã cung cấp SiO2 cho cây lúa (giúp cho cây quang hợp tốt hơn, hạn chế cây đổ, nổ hạt, nâng cao năng suất…); Việc ứng dụng xỉ thép (của lò BOF) nhằm cung cấp Ca, Fe, P cho đất (cải thiện tính axít cho đất,  tạo cân bằng và tăng thêm chất hữu cơ cho đất…). Trong lĩnh vực khác, xỉ thép sử dụng cho xây dựng các công trình trên biển đã tiết kiệm được lượng cát biển và giúp cải tạo rặng san hô và tảo biển (nhờ tác dụng của CaO và Fe trong xỉ) [4]…

- Thứ bảy, trồng cây xanh và thảm cỏ trong khuôn viên các nhà máy: Việc nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án, trong đó có việc “lựa chọn địa điểm và kết cấu nhà xưởng” các dự án của ngành thép Việt Nam phải phù hợp với BĐKH, nước biển dâng và bão, lụt… Ngoài việc lựa chọn địa điểm hợp lý và kết cấu nhà xưởng phù hợp, phải tính đến diện tích bố trí khu trồng cây xanh và thảm có (tối thiểu bằng 15 % tổng diện tích đất dự án) để tạo môi trường xanh và hấp thụ khí CO2 tại khu vực nhà máy.

Đồng thời, áp dụng và triển khai mô hình hoạt động “Nhà máy – Công viên – Bữa ăn tự  chọn” do Công đoàn ngành thép Việt Nam phát động. Với kết quả đạt được, ngành thép Việt Nam cần phải tiếp tục triển khai nhân rộng mô hình này trên pham vi và quy mô toàn ngành trước năm 2020.

 3. KẾT LUẬN

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, các DN của ngành công nghiệp nói chung và ngành thép Việt Nam nói riêng phải có tư duy mới và hành động tích cực để tìm hướng đi thích hợp cho DN nhằm đảm bảo hài hoà quá trình tăng trưởng và BVMT một cách bền vững. Việc xây dựng và triển khai “Chiến lược TTX ngành thép” gắn với mục tiêu của “Chiến lược TTX của Việt Nam”, để cho “Công nghiệp thép và cuộc sống xanh” trở thành hiện thực. Muốn vậy, trước tiên phải chú trọng đến việc nâng cao nhận thức về BVMT, đào tạo nguồn nhân lực (có kỹ năng chuyên môn sâu), lựa chọn công nghệ sản xuất gang-thép hiệu quả thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm hiệu quả năng lượng trong HĐXS.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. TS Nghiêm Gia, ThS Nguyễn Đức Vinh Nam v.v.; Đánh giá tác động và đề xuất giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của ngành thép Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Bộ, Hà Nội, năm 2010-2011
  2. TS Nghiêm Gia v.v.; Bảo vệ môi trường là yêu cầu tất yếu của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2016-2030, Tạp chí Môi trường, tháng 12/2016
  3. Hội thảo cao cấp: Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh của Việt Nam… Bộ KH&ĐT và Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam, Hà Nội, tháng 10/2016.
  4. TS., Nguyễn Văn Sưa; Xỉ gang và xỉ thép- nguồn tài nguyên cần được tái chế và sử dụng, Hiệp hội Thép ViệtNam (VSA), 3/2017

Bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có thể sử dụng các thẻ HTML và thuộc tính sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>