Để bảo vệ môi trường hiệu quả cần phải xây dựng và triển khai “Chiến lược tăng trưởng xanh (TTX) của ngành thép Việt Nam” gắn với “Chiến lược TTX quốc gia”…

TS NGHIÊM GIA
Hội KHKT Đúc Luyện kim Việt Nam

Email: nghiemgia53@gmail.com

Trong quá trình sản xuất gang và thép do phải sử dụng một khối lượng lớn tài nguyên khoáng sản (quặng sắt, than, đá vôi, đôlômit…), sắt thép phế và hóa chất đã phát sinh chất thải (rắn, khí, bụi và nước thải) gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, để bảo vệ môi trường hiệu quả cần phải xây dựng và triển khai “Chiến lược tăng trưởng xanh (TTX) của ngành thép Việt Nam” gắn với “Chiến lược TTX quốc gia”.

 1. TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM

Cũng như các nước trên thế giới, sản xuất gang và thép ở Việt Nam là một ngành công nghiệp nặng ẩn chứa các yếu tố nặng nhọc và gây tác động ô nhiễm môi trường (do chất thải rắn, khí, bụi và nước thải) bởi các hoạt động sản xuất (HĐSX) chính sau đây [1, 2].

1.1.  Tác  động  môi  trường  do  hoạt  động khoáng sản

Hoạt động khoáng sản (HĐKS) là khâu quan trọng và không thể thiếu trong HĐSX của các doanh nghiệp (DN) trong ngành thép Việt Nam. HĐKS đã gây ra những tác động đến môi trường (đất, nước, không khí), môi trường sinh thái, cảnh quan và kinh tế-xã hội với mức độ khác nhau và phụ thuộc vào các giải pháp bảo vệ môi trường (BVMT). Nguyên nhân gây tác động môi trường do HĐKS được đánh giá như sau:

- Do các mỏ tài nguyên khoáng sản (TNKS) thường phân bố ở các vùng rừng núi và nơi đầu nguồn nước nên khi khai thác, tuyển và chế biến dễ gây ô nhiễm đầu nguồn nước.

- Khi khai thác TNKS phải bóc khối lượng lớn đất đá và khi tuyển đã thải ra khối lượng lớn cát và bùn. Lượng lớn chất thải rắn này đã chiếm nhiều diện tích đất lâu dài và phá huỷ lớp đất phủ (thổ nhưỡng). Mặt khác khi tuyển TNKS cần khối lượng nước rất lớn nên đã làm suy thoái và cạn kiệt nguồn nước.

- Nạn khai thác TNKS tự do (không theo quy hoạch và không có đầy đủ thiết kế kỹ thuật) đã có những tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội nơi vùng mỏ.

Bảng 1. Tác động tới môi trường do HĐKS của ngành thép Việt Nam

Tác động tới Những tác động tới môi trường do HĐKS
 1  Môi trường đất - Chiếm dụng nhiều diện tích đất do quá trình khai thác và đổ thải.- Làm xáo trộn, thay đổi cấu trúc và thành phần đất đá và địa hình tự nhiên do quá trình khai thác TNKS, vận chuyển đất đá thải, TNKS ra khỏi khu vực mỏ.- Do đổ thải bừa bãi, thiếu quy hoạch đã gây sạt lở và xói mòn địa hình.
 2  Môi trường nước - Làm thay đổi diện tích chứa, điều kiện tích trữ và thoát nước, thay đổi cân bằng nước trong khu vực do quá trình khai thác và tuyển.- Thay đổi thành phần, tính chất hoá – lý và vi sinh nguồn nước.- Thay đổi chế độ thuỷ văn và các yếu tố động lực dòng chảy.
 3  Môi trường không khí - Làm ô nhiễm không khí do các thiết bị khai thác và tuyển  TNKS xả khí thải và gây bụi trong quá trình khai thác và vận chuyển.
 4  Môi trườngsinh thái và cảnh quan - Thay đổi địa hình, địa mạo của mặt đất. Triệt phá lớp phủ thực vật, huỷ hoại hoặc làm thay đổi cảnh quan khu vực.- Thay đổi điều kiện sinh sống và cư trú của động, thực vật và con người.
 5  Môi trường Kinh tế- Xã hội - Tác động tích cực: Tăng nguồn thu NSNN và cho doanh nghiệp, tạo việc làm, cải thiện mức sống, nâng cao dân trí. – Tác động tiêu cực: Tạo ra lượng lao động dư thừa khi mỏ ngừng hoạt động; Gây khó khăn trong quản lý KT-XH khi có biến động thị trường TNKS; Gia tăng các tệ nạn xã hội và bệnh tật (tại khu khai thác trái phép), gia tăng và tiềm ẩn tai nạn lao đông.

- Một số nguyên nhân khác:
i) Nhận thức về BVMT của các doanh nghiệp chưa cao;
ii) Trình độ công nghệ khai thác, tuyển và chế biến TNKS chưa tiến tiến;
iii) Thiếu các biện pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu. Quản lý nhà nước về HĐKS và BVMT còn một số vấn đề chưa phù hợp với thực tế của các mỏ.

Kết quả điều tra và nghiên cứu HĐKS ở các DN đã đưa ra được những tác động chính ảnh hưởng tới môi trường nêu trong bảng 1, mức độ tác động tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất, loại TNKS và công nghệ khai thác chúng.

1.2. Tác động môi trường do quá trình luyện và cán thép

Quá trình luyện và cán thép sử dụng TNKS, nguyên và nhiên liệu để tạo ra sản phẩm (gang, phôi thép và các sản phẩm thép cán) nên đã phát sinh 3 dạng chất thải (rắn, khí bụi và nước thải) với mức độ ô nhiễm khác nhau tùy thuộc vào công nghệ luyện cán thép. Kết quả phân tích nguồn gốc, tác nhân gây ô nhiễm và mức độ ảnh hưởng tới môi trường do HĐSX của ngành Thép Việt Nam được nêu trong bảng 2 và bảng 3 như sau[1]:

Bảng 3. Mức độ gây ô nhiễm môi trường do HĐSX của ngành Thép Việt Nam

 Công đoạn sản xuất Mức độ gây ô nhiễm môi trường
Từ nguyên liệu vào  Từ sản phẩm  Do tiếng ồn Từ loại chất thải
Bụi Khí Lỏng Rắn
A + + + + + 0 +
B + + + © © + +
C O + + + © + +
D + + + + + + +
E O + + + + + +
F O + © O + + O
G + + + © © © +
H + + 0 © + + +
K + O + + © © +
L + + + + + 0 +

Ghi chú ký hiệu trong bảng 3 như sau: (0) Không có khả năng gây ô nhiễm; (+) Có khả năng gây ô nhiễm; (©) Nhiều khả năng gây sự cố.

- Chất thải rắn phát sinh ở tất cả các công đoạn và loại hình sản xuất nhưng do mức độ gây ô nhiểm không cao nên chúng sẽ được thu gom và tái chế.

- Nước thải phát sinh trong quá trình luyện-cán thép sẽ gây tác động đến môi trường nước do các nguyên nhân sau:
i) Nước dùng để làm mát thiết bị và sản phẩm tại công đoạn sản xuất gang lò cao, cán thép và sản xuất tôn mạ màu khi thải chúng sẽ gây ô nhiễm môi trường nước do một số khoáng chất dư thừa, dầu, mỡ bôi trơn, các cặn bụi, ô xít sắt và các kim loại nặng khác. Nước thải trong quá trình pha chế các loại hoá chất tẩy, rửa kim loại, pha sơn mạ màu… có chứa lượng hoá chất dư thừa, khả năng gây ô nhiễm ở công đoạn này có nguy cơ cao hơn các công đoạn khác;
ii) Dầu mỡ lẫn trong nước thải, kim loại nặng dư thừa lẫn vào nước gây tác động xấu tới sức khoẻ con người;
iii) Trong nước thải có cặn lơ lửng, nếu lượng cặn này tích tụ lớn sẽ gây tắc cống rãnh, cản trở dòng chảy và ảnh hưởng xấu tới môi trường đất và nước. Vì thế tất cả các DN bắt buộc phải xử lý nước thải trước khi thải nước ra môi trường;

- Khí bụi thải phát sinh trong quá trình luyện- cán thép là tác gây ô nhiễm môi trường không khí. Quá trình phát sinh khí bụi thải diễn ra như sau:

+)  Quá trình hóa lý xảy ra trong lò luyện gang, luyện thép hết sức đa dạng, phức tạp và đã phát sinh các khí thải (CO2 là nhiều nhất) do:
i) Sự đốt cháy nhiên liệu (cácbon – C; ôxít cácbon – CO; hyđrô – H2; khí metan – CH4 và các cacbua hyđrô khác) để nung chảy nguyên liệu (quặng sắt, sắt thép phế…) trong lò;
ii) Sự hoàn nguyên trước, hoàn nguyên trực tiếp và hoàn nguyên nóng chảy quặng  sắt  trong  lò  cao;
iii)  Quá  trình  ôxy  hóa cacbon, ôxy hóa silic và ôxy hóa phốtpho (để khử tạp chất lưu huỳnh và phốt pho) trong lò luyện thép.

+) Công nghệ luyện gang lò cao (hình 1) đã tiêu thụ và sử dụng một lượng than khá lớn (than cốc và than cám antraxit) nên đã phát ra lượng khí thải (CO2) lớn hơn so với công đoạn luyện thép và cán thép.

+) Luyện thép bằng lò điện hồ quang (EAF) có sử dụng một lượng than antraxit (để tạo xỉ bọt, tăng cácbon trong thép) đã phát khí thải với mức 0,5÷1 tấn/tấn thép lỏng. Luyện thép bằng Lò chuyển từ gang lỏng (hot metal) và thép phế (scrap) đã phát thải CO2 ra môi trường.

+) Công đoạn cán thép tạo khí bụi chủ yếu phát sinh do đốt lò bằng dầu (FO/DO), khí than hoặc khí thiên nhiên (NG) đã phát thải khía nhà kính (KNK) gây ô nhiễm môi trường.

Vì thế tất cả các DN bắt buộc phải lắp đặt hệ thống xử lý và lọc khí bụi trước khi thải ra môi trường.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>