2.4. Đánh giá thực trạng HĐKS của ngành thép Việt Nam

Về tổ chức  và quản lý HĐKS

Nhận thức về tầm quan trọng của TNKS (đặc biệt là quặng sắt) còn hạn chế, chỉ chú ý phát triển đầu tư các dự án hạ nguồn (nhập phôi để cán thép). Về bộ máy tổ chức HĐKS hiện tại của VNSTEEL không phù hợp với cơ chế thị trường và chưa xứng tầm là một Tổng công ty (TCTy) sản xuất thép lớn của Việt Nam. Theo kinh nghiệm và  thực tế tại các Tập  đoàn/TCTy  có chức năng khai thác, tuyển, chế biến và sử dụng TNKS thì bộ máy tổ chức HĐKS phải có Phòng/Ban chuyên trách về HĐKS. Trong khi đó VNSTEEL và TISCO có rất nhiều mỏ TNKS nhưng không có Phòng/Ban chuyên trách về HĐKS và số cán bộ chuyên trách về HĐKS ở TCTy và TISCO rất thiếu.

Công tác chuẩn bị đầu tư cho thăm dò, khai thác, tuyển và chế biến TNKS ít được chú trọng. Trong đó việc đầu tư thăm dò các mỏ mới hầu như không có.

Định  hướng  quản  lý  và  HĐKS  không  rõ ràng, thiếu quy hoạch và chiến lược dài hạn phù hợp nhằm đảm bảo nhu cầu quặng sắt cho sản xuất gang-thép. Từ năm 2004 đã xây dựng “Quy hoạch phân vùng thăm dò và khai thác khoáng sản phục vụ nhu cầu phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025” kết quả đã được nghiệm thu công nhận, nhưng Hội đồng quản trị VNSTEEL không phê duyệt để triển khai.

Do các hạn chế đã nêu nên VNSTEEL đã mất cơ hội nắm giữ nhiều mỏ khoáng sản đã được nhà nước giao cho quản lý khai thác, trong đó có các mỏ quặng sắt nêu trong “Quy hoạch quặng sắt năm 2006”. Hệ lụy của các tồn tại trên làm mất cơ hội nắm chủ quyền những mỏ quặng sắt lớn và mất cơ hội đầu tư các Dự án thép liên hợp có sử dụng quặng sắt.

Về công nghệ khai thác, tuyển, chế biến và sử dụng quặng sắt [2]

Quy  mô  và  sản  lượng  khai  thác  các  mỏ quặng sắt nhỏ. Đến năm 2007 công suất khai thác quặng sắt lớn nhất Việt Nam là mỏ Trại Cau ở mức 300.000 tấn/năm. Từ năm 2007 thành lập CTy CP sắt Thạch Khê (TIC) để khai thác mỏ Thạch Khê với công suất giai đoạn I là 5 triệu tấn/năm. Nhưng do nhiều lý do (đang gây tranh  cãi  lớn)  nên  mỏ  Thạch  Khê  vẫn  chưa được khai thác.

Thiết bị công nghệ khai thác đa phần là cũ, lạc hậu và ít được đầu tư đổi mới. Công suất khai thác và tuyển thực tế thấp hơn so với công suất thiết kế. Công nghệ tuyển và chế biến đơn giản, chỉ có khâu tuyển rửa và sàng đập phân cấp cỡ hạt. Thiết bị tuyển khoáng cũ, lạc hậu và ít được đầu tư đổi mới. Đến thời điểm 2012 đã có một số doanh nghiệp khai thác mỏ sử dụng tuyển từ để tuyển quặng manhetit cấp hạt mịn có hàm lượng Fe > 32 %, sau tuyển đã nâng hàm lượng Fe = (65-67) %.

VNSTEEL chưa đầu tư nhà máy sản xuất quặng  cầu  viên  để  sử  dụng  hiệu  quả  nguồn quặng manhetit cấp hạt mịn (0,047 mm). Trong khi đó một số doanh nghiệp tư nhân (Tập đoàn Thép Hòa Phát và Công ty TNHH Tân Tiến) đến năm 2017 đã đầu tư được 3 nhà máy sản xuất quặng cầu viên tại tỉnh Hà Giang và tỉnh Yên Bái.

Về quản lý tài nguyên  và bảo vệ môi trường trong  HĐKS

Hầu hết các doanh nghiệp HĐKS đều tuân thủ theo quy định nêu trong “Giấy phép khai thác mỏ”, đảm bảo tiết kiệm tài nguyên và BVMT. Tuy nhiên do thiếu kiểm tra giám sát nên vẫn để xảy ra một số sự cố trong HĐKS (trượt lở bãi thải số 3 mỏ than Phấn Mễ; Sụt lún đất ở mỏ sắt Trại Cau; Vỡ đập quặng đuôi mỏ sắt Nà Lũng của TKV…) đã làm phát sinh chi phí xử lý và khắc phục hậu quả gây tốn kém và tăng cho phí cho các doanh nghiệp HĐKS.

Về đầu tư KHCN, hiệu quả và năng suất lao động

Nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến khai thác và tuyển quặng sắt có giá trị thực tiễn (như đề tài: “Nghiên cứu công nghệ vê viên quặng cám mỏ Trại Cau”; “Nghiên cứu khả năng tuyển tận thu quặng mịn manhetit từ quặng thải của nhà máy tuyển trong hồ chứa quặng đuôi mỏ Trại Cau”…). Nhưng do kinh phí hạn hẹp nên chưa giải quyết vấn đề một cách đồng bộ những vướng mắc về công nghệ trong khai thác và tuyển quặng sắt. Việc áp dụng những kết quả NCKH và những tiến bộ mới trong khâu khai thác và tuyển chậm so với doanh nghiệp tư nhân.

Chủng loại và giá thành sản phẩm không có khả  năng  cạnh  tranh  so  với  doanh  nghiệp  tư nhân, vì: i) Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp; ii) Chi phí cho quá trình khai thác và tuyển cao.

Năng suất lao động thấp so với nhiều nước trong khu vực. Sản lượng khai thác tính trên số lao động của mỏ Trại Cau là 0,3 triệu/năm trên 456 người, trong khi đó mỏ quặng sắt KUZnhet LB Nga tỷ lệ này là 3 triệu tấn/năm trên 1.000 người.

3. Giải pháp đổi mới quản lý, hiện đại hoá công nghệ khai thác, tuyển và sử dụng hiệu quả TNKS của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2018-2035

Cùng với việc triển khai “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ngành thép Việt Nam” cần thiết phải thực hiện “Chiến lược quản lý HĐKS và BVMT của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2018-2035″ trên cơ sở các mục tiêu tổng về HĐKS và BVMT chung của quốc gia theo một số giải pháp (GP) nêu dưới đây.

Nâng cao hiệu lực quản lý HĐKS và BVMT

Nâng cao nhận thức vai trò, vị trí và tiềm năng của TNKS và BVMT đối với sự phát triển của ngành Thép Việt Nam bằng cách: i) Thường xuyên quán triệt để các doanh nghiệp hiểu quyền lợi, nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm và thực hiện tốt pháp luật về quản lý HĐKS và BVMT; ii) Rà soát tất cả hồ sơ pháp lý của các đơn vị khai thác mỏ; iii) Phối hợp với Tổng cục ĐCKS Việt Nam (thuộc Bộ TN&MT) tổ chức tập huấn về Luật Khoáng sản (sửa đổi), Luật Bảo vệ môi trường ngày   23/6/2014   (có   hiệu   lực   thi   hành   từ 01/01/2015) và các văn bản pháp luật liên quan; iv) Phối hợp với cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt các vi phạm HĐKS và BVMT ở các đơn vị.

Kiện toàn tổ chức HĐKS và BVMT theo hướng: i) Thành lập công ty (pháp nhân) để quản lý HĐKS phù hợp điều kiện thực tế và theo quy định của luật pháp hiện hành; ii) Bố trí sắp xếp (tái cơ cấu) quản lý HĐKS và BVMT, kiện toàn biên chế và xây dựng quy chế trách nhiệm đối với cán bộ tham gia công tác quản lý HĐKS và BVMT ở các đơn vị.

Thực hiện “Chiến  lược thăm dò, khai thác, chế biến  và  sử  dụng  quặng  sắt  giai  đoạn  2015- 2030” (gọi tắt là “Chiến  lược  quặng  sắt”)  với quan điểm và mục tiêu cần đạt được như sau: Về quan điểm: i) Thực hiện “Chiến lược quặng sắt” phải phù hợp với nội dung chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Công-Thương về phê duyệt Quy hoạch quặng sắt và Quy hoach phát triển ngành thép Việt Nam; ii) Chú trọng đầu tư khai thác, tuyển quặng sắt manhetit nghèo (hàm lượng Fe thấp) để chế biến sâu (sản xuất quặng cầu viên) nhằm sử dụng hiệu quả nguồn quặng sắt trong nước cho nhu cầu của ngành thép Việt Nam;

Về mục tiêu: i) Giai đoạn trước mắt (2015-2020) tập trung nguồn lực thực hiện các dự án đầu tư tìm kiếm mỏ, thăm dò, khai thác, tuyển, chế biến, thu mua và kinh doanh quặng sắt cho nhu  cầu  của  các  doanh  nghiêp;  ii)  Giai  đoạn 2020-2025 duy trí khai thác ổn định các mỏ quặng sắt Quý Xa (tình Lào Cai), mỏ Tiến Bộ (tỉnh Thái Nguyên), chuẩn bị nguồn lực để tiếp tục tham gia dự án mỏ Thạch Khê và các mỏ quặng sắt ở tỉnh Yên Bái để cung cấp quặng sắt manhetit cho nhu cầu  sản  xuất  gang-thép;  iii)  Giai  đoạn  (2025-2030) chuẩn bị các nguồn lực để nghiên cứu dự án thăm dò, khai thác, tuyển và chế biến quặng sắt ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

Thực  hiện  giải  pháp  nhằm  đáp ứng  nhu  cầu than cho sản xuất gang theo công nghệ lò cao của Việt Nam [3]

Nâng cao chất lượng than mỡ và than cốc theo hướng: i) Đầu tư hệ thống đánh tơi của Nhà máy tuyển than Phấn Mễ (vì than mỡ Phấn Mễ chứa sét và độ tro cao); ii) Ngoài việc tăng chất lượng than mỡ trong nước, cần nghiên cứu tỷ lệ phối trộn hiệu quả than mỡ mỏ Phấn Mễ với than mỡ nhập khẩu có chất lượng tốt (từ Úc, Ấn Độ…) để sản xuất than cốc chất lượng cao; iii) Nghiên cứu công nghệ tuyển nhằm giảm độ tro và lưu huỳnh than mỡ vùng Tây Bắc để phối trộn với than mỡ mỏ Phấn Mễ và than mỡ nhập khẩu cho sản xuất than cốc (tỷ lệ thích hợp là: 20 % than mỡ Tây Bắc + 60 % than mỡ Phẫn Mế + 20 % than mỡ nhập khẩu) [3].

Đổi mới công nghệ trong luyện gang lò cao theo hướng: i) Giảm tiêu hao than cốc, phấn đấu đến năm 2025 đạt mức với các nước tiến tiến trong khu vực (với mức tiêu hao 350 kg than  cốc/tấn  gang)  bằng  cách  áp  dụng  phun than cám antraxit (với mức 230 kg/tấn gang) và tăng nhiệt độ gió nóng trong lò cao lên 1.200 oC; ii) Nghiên cứu thay đổi một số kết cấu nội hình lò cao, xây dựng quy trình vận hành và thông số chạy lò cao phù hợp với đặc tính quặng sắt Việt Nam (có Mn và Zn cao); iii) Đầu tư thiết bị kiểm tra chế độ nhiệt để duy trì ổn định nhiệt độ cao tại đỉnh lò cao. Lựa chọn vật liệu xây lò và vữa chèn lò để đảm bảo độ bền chặt và kín nhằm giảm sự phá huỷ tường lò và hạn chế chi phí bão dưỡng lò cao.

Nghiên cứu áp dụng công nghệ luyện kim phi cốc (là công nghệ luyện gang không sử dụng than cốc mà chỉ sử dụng than antraxit hay khí thiên nhiên như: Công nghệ COREX, Công nghệ MIDREX, Công nghệ FASMET, Công nghệ FINE- EX…) mà các nước Nam Phi, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đức, Mỹ và   Nhật Bản… đã thực hiện khá hiệu quả để sản xuất gang [3].

Tăng cường  nguồn lực, đổi mới công nghệ và đầu tư nghiên  cứu cho HĐKS

Tăng cường nguồn tài chính cho HĐKS bằng việc lập “Quỹ phát triển khoa học và công nghệ”, huy động vốn “xã hội hóa” để đầu tư dự án trọng điểm về thăm dò, khai thác và tuyển quặng sắt.

Đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ và thiết bị khai thác, tuyển và chế biến TNKS đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, đến năm 2020 loại bỏ và thay thế tất cả các thiết bị cũ và lạc hậu. Triển khai dự án đầu tư sản xuất quặng cầu viên công suất (300.000-500.000) tấn/năm tại vùng Yên Bái để cung cấp quặng sắt cho sản xuất gang lò cao;

Đầu tư kinh phí để triển khai một số đề tài NCKH về khai thác, tuyển và chế biến TNKS như sau: i) Nghiên cứu áp dụng “Công nghệ số hoá và phần mềm quản lý tài nguyên” để theo dõi và cập nhật số liệu thực tế khai thác, quản lý tài liệu địa chất quặng sắt Việt Nam phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu; ii) Nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng suất khai thác, giảm hệ số bóc đất, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường; iii) Nghiên cứu giải pháp sử dụng các moong và bãi thải sau khai thác tại các mỏ; iv) Tăng cường hợp tác với các tổ chức ngoài nước trong nghiên cứu đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực HĐKS và BVMT

KẾT LUẬN

Việc đánh giá thực trạng HĐKS nêu trên đã chỉ ra được nguyên nhân và những tồn tại trong quản lý HĐKS của ngành thép Việt Nam. Từ đó đề xuất được một số giải pháp nhằm “Đổi mới hiện đại hoá công nghệ khai thác, tuyển và chế biến TNKS của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2018-2035”. Đây là những giải pháp có tính định hướng và quan hệ chặt chẽ với nhau, có tính hỗ trợ và thúc đẩy cho nhau. Vì thế, trong quá trình triển khai thực hiện không nên coi nhẹ giải pháp nào mà phải thực hiện đồng bộ mới đạt kết quả và mang lại hiệu quả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. “Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và phân phối thép giai đoạn đến 2020, có xét đến năm 2025” của Bộ Công-Thương, phê duyệt ngày 31/01/2013.
  2. Nghiêm Gia, Nguyễn Quang Dũng, Bùi Huy Tuấn và nnk; “Chiến lược thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2015-2030”, Hà Nội, 2014.
  3. Nghiêm Gia, Nguyễn Văn Sưa và nnk; “Giải pháp đảm bảo nhu cầu than cho luyện gang lò cao của ngành Thép Việt Nam”, Hội thảo KH mỏ toàn quốc, tháng 8-2017.
  4. Phạm Chí Cường, “Một số ý kiến về điều chỉnh Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và phân phối thép giai đoạn đến 2020, có xét đến năm 2025 của Bộ Công-Thương, Tạp chí Kim loại số 75, tháng 12/2017.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>