2. THỰC TRẠNG HĐKS CỦA TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM-CTCP

2.1. Thực trạng thăm dò, khai thác, tuyển và chế biến quặng sắt [2]

Thực trạng  khai thác và tuyển  quặng  sắt mỏ Trại Cau – TISCO

Mỏ sắt Trại Cau (tỉnh Thái Nguyên) thuộc TISCO là một đơn vị khai thác và tuyển quặng sắt đầu tiên ở Việt Nam theo công nghệ thác mỏ lộ thiên và tuyển rửa. Các thiết bị khai thác nhỏ và vừa phù hợp với công suất khai thác của mỏ Trại Cau 300.000 t/năm. Công nghệ tuyển rửa do Trung Quốc thiết kế và lắp đặt từ năm 1964 gồm các công đoạn: Rửa – Đập nghiền – Sàng phân loại cỡ hạt.

Từ khi bắt đầu khai thác (từ năm 1964 đến 2000) mỏ Trại Cau chủ yếu khai thác, tuyển và sử dụng  quặng  sắt  manhetit  mà  chưa  chú  ý  tới quặng sắt limonit. Từ năm 2001 đến nay đã khai thác quặng sắt limonit với tỷ lệ 35 % so với manhetit, điều này không phù hợp với trữ lượng của hai loại quặng sắt này ở Thái Nguyên (hiện quặng sắt manhetit chỉ còn < 2 triệu tấn và limonit > 20 triệu tấn).

Nguồn quặng sắt còn lại của mỏ Trại Cau và các mỏ nhỏ khác của tỉnh Thái Nguyên có xu thế giảm dần chất lượng theo chiều sâu khai thác, trữ lượng và chất lượng quặng sắt còn lại không bảo đảm sản xuất lâu dài cho TISCO.

Thực  trạng  khai  thác  và  tuyển  quặng  sắt limonit mỏ Tiến Bộ – TISCO

Năm 2012 TISCO đã khai thác mỏ quặng sắt Tiến Bộ (tỉnh Thái Nguyên) với công suất 600.000 tấn/năm, giai đoạn I là 300.000 tấn/năm. Công nghệ khai thác và tuyển của mỏ Tiến Bộ tương tự như mỏ Trại Cau nêu trên. Do chất lượng quặng sắt imonit mỏ Tiến Bộ không cao (Fe thấp và Mn cao) nên chỉ sử dụng hiệu quả tối đa 50 % trong sản xuất gang lò cao của TISCO.

Thực trạng  khai thác và tuyển  quặng  sắt mỏ Ngườm Cháng – TISCO

Mỏ  Ngườm  Cháng  (tỉnh  Cao  Bằng)  thuộc TISCO được khai thác từ năm 2004 với công suất 170.000 tấn/năm. Công nghệ khai thác lộ thiên và công nghệ tuyển rửa như mỏ Trại Cau. Quặng sắt manhetit của mỏ Ngườm Cháng có hàm lượng Fe > 61 % là nguồn cung cấp tốt nhất cho TISCO.

Thực trạng khai thác các mỏ của TISCO cho thấy, nhu cầu quặng sắt manhetit cho sản xuất của TISCO giai đoạn 2018-2035 thiếu trầm trọng. Điều này đặt ra thách thức lớn, nên trước mắt TISCO đã phải thu mua quặng sắt từ các doanh nghiệp mỏ trong nước và nhập quặng manhetit chất lượng cao để trung hoà với quặng sắt do TISCO khai thác.

Thực  trạng  khai  thác  và  tuyển  quặng  sắt limonit mỏ Quý Xa tỉnh Lào Cai

Mỏ quặng sắt Quý Xa  (tỉnh Lào Cai) do Công ty Khoáng sản và Luyện kim Việt Trung (VTM) thuộc VSNTEEL quản lý khai thác từ năm 2012 với công suất thiết kế 3.000.000 tấn/năm, giai đoạn I là 1.500.000 tấn/năm, công nghệ khai thác mỏ lộ thiên và tuyển bán khô. Quặng tinh được vận chuyển bằng ôtô về Nhà máy Luyện gang lò cao tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng, tỉnh Lào Cai (cách mỏ Quý Xa 35 km).

Thực  trạng  khai thác và tuyển  quặng  sắt của VNSTEEL nêu trong  bảng 1.

Bảng 1. Thống kê các mỏ quặng sắt của Tổng công  ty Thép Việt Nam-CTCP (VNSTEEL) tính đến năm 2018

 TT  Tên mỏ  Giấy phép KT Thời gian KT, năm Trữ lượng mỏ, tấn Loại quặng sắt Công suất khai thác, tấn/năm CN khai thác, Tuyển  Năm đóng cửa mỏ
Theo thiết kế  Còn lại
I Cao Bằng                
 1 Ngườm Cháng (Cấp lại GP ) 1475/GP-BTNMT 22/8/2013  4  721.704 Khai thác tận thu  Manhetit  177.000 Lộ thiên, tuyển rửa 2017 nộp HS đóng cửa mỏ
II Thái Nguyên                
 1  Núi Đ (thuộc Trại Cau) 1521/ĐC 08/10/1969  4  715.356  242.762  Limonit  70.000 Lộ thiên, tuyển rửa  2019
 2  Núi Quặng (Trai Cau) 1521/ĐC 08/10/1969  3  1.331.324  < 1.000.000  Manhetit  100.000 Lộ thiên, tuyển rửa  2019
3 Hòa Bình (Trai Cau) 1521/ĐC 08/10/1969 3 788.000 788.000 Limonit Đang lập Dự án KT Lộ thiên, tuyển rửa Chưa khai thác
 4  Kim Cương (Trai Cau) 1521/ĐC 08/10/1969  3 30.000  30.000  Manhetit  Thuê KT  

Lộ thiên

Chưa khai thác
 5  Tiến Bộ 676/GP-BTNMT 31/3/ 2008  30  21.730.000 > 15.000.000  Limonit  600.000 Lộ thiên, tuyển rửa  2044
III Lào Cai                
 1  Mỏ Quý Xa 1226/GP-BTNMT 16/8/ 2007  12  34.500.000 30.570.000 Limonit  3.000.000  Lộ thiên 2020 hết hạn GP
IV Hà Tĩnh                
 1 Mỏ Thạch Khê (VNSTEEL là Cổ đông sáng lập với 20 % vốn điều lệ)  222/GP- BTNMT 24/2/2009 47  514.000.000  514.000.000  Manhetít GĐ1: 5 triệu tấn GĐ2: 10 triệu tấn  Lộ thiên, tuyển rửa 2060 Hiện chưa khai thác

2.2. Thực trạng khai thác và chế biến than mỡ của VNSTEEL [3]

Thực  trạng  khai  thác  mỏ than  hầm lò  Làng Cẩm (Chi nhánh than Phấn Mễ – TISCO)

Mỏ Làng Cẩm được thiết kế từ năm 1988 với công suất 60.000 tấn/năm, theo công nghệ khai thác hầm lò. Điều kiện khai thác khó khăn do than có tính tự cháy rất cao nên mỏ đã áp dụng phương pháp mở vỉa “phân chia lớp bằng – chèn lò toàn phần – lò chợ ngắn – điều khiển đá vách” dẫn đến giá thành khai thác cao. Sản lượng khai thác bình quân của mỏ Làng Cẩm trong giai đoạn 2005-2015 chỉ khoảng 15.000 tấn/năm.

Thực  trạng  khai  thác  mỏ than  lộ thiên  Phấn Mễ (Chi nhánh than Phấn Mễ – TISCO)

Từ năm 1993-1994 một số khu vực mỏ Phấn Mễ được khai thác hầm lò, nhưng do than có tính tự cháy cao, điều kiện địa chất phức tạp đã xảy ra một số vụ cháy mỏ. Vì thế TISCO và VNSTEEL đã trình Bộ Công nghiệp phê duyệt phương án khai thác lộ thiên với công suất 70.000 tấn/năm. Hiện tại mỏ đang sản xuất ổn định, đạt và vượt công suất thiết kế với sản lượng khai thác bình quân bình quân là 100.000 tấn/năm. Thiết bị khai thác gồm máy xúc thủy lực gàu ngược E-2503 (Catepiler của Mỹ), vận tải bằng ôtô Kraz 12 tấn, khoan nổ mìn bằng máy BY-2, máy gạt T-130. Hiện nay mỏ đã khai thác xuống sâu (mức – 200) nên hệ số bóc đất rất lớn (trên 35 m3  đất/m3  than) làm cho giá thành cao.

Thực  trạng  Nhà máy tuyển  than  (Chi nhánh than Phấn Mễ – TISCO)

Nhà máy tuyển than do Trung Quốc thiết kế lắp đặt với công suất 250.000 tấn/năm. Than mỡ khai thác từ mỏ Làng Cẩm và Phấn Mễ được vận chuyển về Nhà máy tuyển than (cách khai trường khoảng 3-4 km). Chất lượng than mỡ sau tuyển đảm bảo yêu cầu cho luyện cốc. Than sau khi tuyển được chuyển bằng ô tô về Nhà máy Cốc hóa – TISCO (cách mỏ 40 km) để luyện thành than cốc cho lò cao của TISCO.

2.3. Thực trạng khai thác và chế biến nguyên liệu trợ dung

Thực trạng khai thác và chế biến đá vôi

Mỏ đá vôi Núi Voi do CTy Cơ điện và Luyện kim quản lý khai thác từ năm 1960, đến năm 2000 đã thiết kế cải tạo mở rộng với công suất 300.000 tấn/năm. Mỏ khai thác lộ thiên, với thiết bị: khoan khí nén, máy gạt C100, máy xúc W1002 (dung tích gàu 1 m3), vận chuyển bằng ôtô tải trọng (10-30) tấn. Đá vôi được đưa vào 2 hệ thống đập sàng (công suất 2 x 80 m3/ca) tạo ra sản phẩm có kích thước (3-120) mm đế cung cấp cho nhu cầu luyện gang-thép của TISCO.

Thực trạng khai thác và chế biến Đôlômit

Mỏ đôlômit Khánh Hoà thuộc quản lý của mỏ đá  Núi  Voi,  công  nghệ  khai  thác  và  chế  biến tương tự như mỏ đá vôi Núi Voi. Hiện tại phải dừng sản xuất (do gần với khu di tích chùa Hang);

Mỏ đôlômit Nho Quan tỉnh Ninh Bình thuộc Công ty Cổ phần Đôlomit Việt Nam hiện đang được thiết kế khai thác với công suất thiết kế60.000 tấn/năm theo phương pháp lộ thiên (kết hợp cơ giới với thủ công).

Thực trạng khai thác và chế biến quaczit

Mỏ quaczit Phú Thọ (thuộc CTy CP GT Thái Nguyên-TISCO) khai thác từ năm 1985 với công suất 5.000 tấn/năm cung cấp cho TISCO. Công nghệ khai thác lộ thiên, khoan nổ mìn, cậy phá và tuyển chọn thủ công.

Thực trạng khai thác và chế biết đất sét và vật liệu chịu lửa (VLCL)

Mỏ đất sét trắng và đất chịu lửa Trúc Thôn thuộc TCTy Cổ phần Trúc Thôn được khai thác từ năm 1964 để sản xuất VLCL, làm chất kết dính cho sản xuất gạch chịu lửa samốt A và B, chế biết đất sét trắng để sản xuất gạch ốp lát (Ceramic). Công nghệ khai thác lộ thiên. Thiết bị: máy xúc thuỷ lực gầu ngược, vận tải ô tô Maz 503, máy gạt T-75.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>